Hải Ly Châu Mỹ – một trong những biểu tượng của đất nước Canada

Mỗi quốc gia đều có cho mình loài vật biểu tượng. Nếu như nước Úc có Kangaroo, Trung Quốc có Gấu trúc hay Việt Nam có trâu nước thì đất nước Canada cũng sở hữu cho mình một loài vật biểu tượng đặc trưng đó chính là Hải Ly Châu Mỹ. Hôm nay, chúng ta hãy cùng khám phá những điều thú vị về con vật biểu tượng của Canada này nhé!

Hải Ly Châu Mỹ (danh pháp khoa học: Castor canadensis) là một loài Hải Ly bản địa tại Canada, phần lớn Hoa Kỳ, và miền bắc México. Chúng được di thực vào tỉnh cực nam của Argentina là Tierra del Fuego và đã thích nghi được với môi trường rừng ôn đới cách đây nhiều năm. Tên tiếng Anh phổ thông của chúng là American Beaver hoặc North American Beaver, hay chỉ đơn giản là Beaver tại Bắc Mỹ.

Đặc điểm

Hải Ly Châu Mỹ là loài gặm nhấm lớn nhất Canada và thứ hai thế giới (sau lợn nước tại Nam Mỹ), thường được tìm thấy ở khu vực có rừng trên khắp Canada. Hải Ly trưởng thành thường nặng từ 15-35 kg, dài khoảng 1m. Những Hải Ly già và lớn cân nặng đến 45kg.

Loài động vật này được biết đến với bộ lông nhiều màu sắc khác nhau nhưng thường có màu nâu sẫm. Lớp da của Hải Ly có hai loại lông. Phần lông phủ bên ngoài thì thô và dài và lớp lông nệm bên trong mượt mà hơn. Hải Ly có đầu tròn, đuôi hình tay chèo dẹp và to, chân sau có màng bơi, chân trước không màng và nhỏ hơn, có móng vuốt.

Chúng hoạt động về đêm, giỏi bơi lặn, có thể lặn 15 phút nhưng chậm chạp khi trên đất liền nên có chiều hướng ở dưới nước nhiều nhất có thể. Một tuyến bã gần cơ quan sinh dục của chúng tiết ra một chất dầu gọi là “castoreum” được dùng để làm cho da và lông mềm, không thấm nước. Một lớp mỡ dưới da giữ cho Hải Ly khỏi lạnh vì môi trường nước. Mắt của Hải Ly có thể nhìn rõ dưới nước. Mũi và tai của chúng được bịt trong lúc lặn. Đuôi dẹp, rộng và có phủ vảy sừng có tác dụng báo nguy và cũng dùng để làm nơi dự trữ mỡ.

Hải Ly xây ổ bằng cây con, nhánh cây và bùn trong các hồ hay suối. Những ổ này có thể nằm giữa vùng nước bao quanh hay vùng đất sát mép nước gồm có hang được khoét sâu vào bờ sông. Hải Ly nổi tiếng với việc xây đập ngang suối và làm ổ trong hồ do chúng tạo ra sau khi xây đập. Lối vào ổ hay hang thường nằm dưới nước. Khi gặp nguy hiểm, một con Hải Ly sẽ đập đuôi xuống nước để báo nguy cho các thành viên trong gia đình của nó biết.

Đập được xây bằng cây rụng lá theo mùa, đặc biệt là các loài cây bạch dương và liễu. Phần vỏ cây bên trong, nhành cây, cây non và lá là một phần thức ăn quan trọng của Hải Ly. Cây bị đốn ngã bằng bộ răng hàm chắc khỏe của chúng. Chân trước có móng vuốt dùng để đào xới đất, kéo vật dụng. Một số nhà nghiên cứu chứng minh rằng tiếng nước chảy có ảnh hưởng đến việc khi nào và nơi đâu chúng sẽ xây đập. Ngoài việc tạo nên một chỗ an toàn cho Hải Ly trú ẩn, những ao hồ của Hải Ly cũng là nơi cư trú của các loài chim tìm mồi dưới nước và những động vật sống dưới nước khác. Đập Hải Ly giúp giảm sự xâm thực đất và có thể giúp giảm lụt. Trong mùa hè, Hải Ly ăn cỏ, rau súng, cỏ nến, và những loại thực vật thuỷ sinh khác.

Hải Ly thường giao phối cả đời. Các Hải Ly con thường ở chung với cha mẹ chúng đến 2 năm tuổi. Hải Ly Châu Mỹ khác biệt với họ hàng của nó là Hải Ly Châu Âu ở chỗ chúng có bộ răng chắc khỏe và khả năng sinh sản tốt hơn.

Hải Ly và việc trở thành biểu tượng của Canada

Có thể nói loài Hải Ly Châu Mỹ gắn liền với sự phát triển của đất nước Canada, là môt trong những tiền đề để giúp cho “xứ sở lá phong” vươn lên trở thành một trong những đất nước giàu có và phát triển nhất trên thế giới.

Vào những năm 1600 – 1700 khi cả thể giới đang chạy theo xu hướng thời trong đồ lông thời thượng thì loài Hải Ly đã mang đến cho đất nước Canada một nguồn lợi khổng lồ. Hải Ly bị bắt để sản xuất những chiếc mũ lông được yêu thích trên toàn thế giới và trở thành một trong những món thời trang hàng hiệu không thể thiếu trong tủ quần áo của bất kỳ người quý tộc nào. Món lợi kiếm được từ việc này đã tạo tiền đề cho Canada có được một nền kinh tế vững chắc mà từ đó có được cơ sở cho sự phát triển thần kỳ và cũng chính vì điều đó mà Hải Ly dần trở thành một phần trong văn hóa của những người Canada.

Ngày 24/3/1975, Hải Ly Châu Mỹ được công nhận chính thức là con vật biểu tượng của đất nước Canada cho đến ngày nay. Đã từng có thời gian hình ảnh của loài vật này xuất hiện trên đồng 5 xu và cả những chiếc tem bưu chính đầu tiên của quốc gia này. Ngoài vai trò là biểu tượng quốc gia, Hải Ly còn là biểu tượng của nhiều hiệp hội, tổ chức, đơn vị.

Hải Ly Châu Mỹ cũng như các biểu tượng đặc trưng khác của đất nước Canada đều mang một ý nghĩa “đặc biệt” của nó. Hãy thực hiện một chuyến du lịch Canada để có cơ hội khám phá nhiều điều thú vị hơn nhé!

11 môn thể thao phổ biến và được yêu thích nhất tại Canada

Canada có khí hậu trong lành, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ tội phạm thấp cùng lòng nhiệt tình mến khách của người dân. Tất cả những điều đó đã giúp xứ sở này trở thành một điểm đến lý tưởng của khách du lịch trên khắp thế giới. Tuy nhiên, một khía cạnh ít được chú ý ở đất nước này là tinh thần yêu chuộng thể thao và sự phong phú của những môn thi đấu khác nhau.

Sau đây chính là 11 bộ môn thể thao phổ biến và nhận được sự yêu thích của người dân “xứ sở lá phong”:

Khúc côn cầu (Hockey)

Hockey vốn là môn thể thao quốc gia của Pakistan, thế nhưng đây lại là môn thể thao được người dân Canada yêu thích nhất và cũng là môn thể thao quốc gia chính thức tại đất nước này. Tại “xứ sở lá phong”, Hockey được luyện tập để phát triển các giải trong nước và thi đấu quốc tế.

Đội tuyển Hockey của Canada với tên gọi là “National Hockey League” (NHL) được thành lập mở rộng ở cả Canada và Mỹ. Hiện nay Canada có nhiều đội nổi tiếng ở NHL như: Calgary, Edmonton, Montreal, Toronto, Winnipeg và Ottawa.

Bóng vợt (Lacrosse)

Lacrosse được tuyên bố là môn thể thao quốc gia của Canada vào năm 1859 và một môn thể thao mùa hè năm 1994. Môn thể thao này được chơi bởi hàng ngàn người trên khắp Canada. Lacrosse được quản lý bởi Hiệp hội Lacrosse Canada được thành lập vào năm 1925.

Có hai giải đấu chuyên nghiệp trong nước là Liên đoàn Cúp Quốc gia Liguex và giải Major League Lacrosse cho Lacrosse League.

Trong các cuộc thi bóng vợt trên thế giới thì đội tuyển bóng vợt cả tuyển nam và nữ đều được giới chuyên môn đánh giá rất cao. Đội tuyển bóng vợt nữ của Canada được là một trong những đội bóng hàng đầu trên thế giới. vào năm 2013 đội tuyển này đã giành vé vào chung kết FIL World Cup đối đầu với tuyển nữ Hoa Kỳ và giành huy chương bạc.

Bóng rổ (Basketball)

Bóng rổ là môn thể thao đồng đội do một người Canada có tên là James Naismith phát minh ra vào năm 1891. Đây chính là nền móng cho sự phát triển của môn thể thao bóng rổ chuyên nghiệp trên thế giới hiện nay. Cơ quan quản lý môn thể thao bóng rổ chính thức ở Canada được Canada Basketball – thành lập năm 1928. Từ trước năm 1900 môn bóng rổ đã được chơi ở khắp các vùng trên đất nước này và đến nay vẫn được duy trì thu hút nhiều người tham gia, nhiều lớp cầu thủ trẻ tài năng được đào tạo và huấn luyện để thi đấu chuyên nghiệp trên đấu trường quốc tế.

Bóng đá (Soccer)

Bóng đá ở Canada là một hình thức bóng đá lưới được chơi bởi 2 đội với 12 cầu thủ mỗi đội. Bóng đá ở nước này có nguồn gốc từ bóng bầu dục nhưng từ đó đã được phát triển thành bóng đá Canada. Và hiện nay, nó là môn thể thao vua phổ biến ở Canada.

Mặc dù, luật bóng đá ở Canada có nhiều các quy tắc riêng, nhưng các luật lệ chính của môn thể thao này vẫn được duy trì đảm bảo.

Trận đấu bóng đá đầu tiên trên đất nước Canada diễn ra ở thành phố Toronto vào tháng 10/1876 giữa hai đội tuyển bóng đá địa phương. Mặc dù chưa thực sự phổ biến như bóng đá ở Châu Âu, nhưng đội bóng đá nữ của Canada vẫn thu được nhiều thành tích đáng ghi nhận trong các kỳ thi quốc tế. Vào năm 2015, Canada đăng cai tổ chức FIFA Women World Cup và gặt hái được rất nhiều thành công.

Bóng bầu dục (Rugby)

Môn bóng bầu dục khởi phát ở nước Anh sau đó quân đội Anh cùng với những người định cư và một bộ phận hải quân của Hoàng gia Anh đã đưa môn thể thao này đến với đất nước Canada vào năm 1823. Với bề dày lịch sử hoạt động, đến thời điểm hiện tại Canada trở thành một trong những quốc gia mạnh nhất trong các cuộc thi đấu bóng bầu dục trên thế giới. Chính nhờ những chương trình chứng nhận huấn luyện quốc gia đóng đã giúp môn thể thao bóng bầu dục Canada được đà phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Bóng chày (Baseball)

Tuy bóng chày là môn thể thao quốc gia trên đất Mỹ nhưng độ phổ biến của nó đã lan rộng sang khắp các vùng ở quốc gia láng giềng là Canada. Tại “xứ sở lá phong”, bóng chày là một trong những môn thể thao mùa hè được ưa thích nhất. Phần lớn người chơi môn bóng chày ở Canada là sinh viên các trường đại học đầy nhiệt huyết tuổi trẻ và đam mê thể thao vận động.

Thời kỳ hoàng kim nhất của môn bóng chày ở Canada là thập niên 90 khi liên tiếp trong hai năm 1992 và 1993 đội bóng chày Toronto Blue Jays 2 lần đạt chức vô địch tại World Baseball Series. Đến năm 1997, vận động viên Larry Walker thuộc Liên đoàn Quốc gia Colorado Rockies đã vinh dự trở thành người Canada đầu tiên nhận được giải thưởng cao quý – cầu thủ bóng chày xuất sắc nhất thế giới.

Bóng gậy (Cricket)

Cricket là một môn thể thao dùng gậy đánh bóng không va chạm, chơi giữa hai đội, mỗi đội 11 đấu thủ, trên sân cỏ hình tròn. Mục đích của trận đấu là hai đội thay phiên nhau, một đội ném bóng và đội kia đánh bóng. Sau khi tất cả các đấu thủ của đội đánh bóng bị loại, đội này sẽ đổi sang ném bóng, và đội bên kia sẽ vào sân đánh bóng. Khi bắt đầu vào trận, hai cầu thủ đánh bóng đứng ở hai đầu sân pitch. Mỗi đầu đều có wicket gồm ba trụ môn cắm vào đất, có hai thỏi gỗ bail nằm trên. Cầu thủ ném bóng đối phương gọi là bowler cùng đồng đội đứng quanh là fielder. Cầu thủ ném bóng cố ném từ đầu sân pitch sang đầu bên kia, mục đích là cho bóng dội lên từ mặt đất và làm đổ ba cọc wicket đầu bên kia. Cầu thủ đánh bóng phải ráng đánh bật bóng ra, bảo vệ wicket phía bên mình. Trong khi bóng bị đánh xa, hai cầu thủ cầm gậy phải chạy qua lại giữa hai đầu sân pitch. Mỗi đợt chạy tính là một “run”. Những cầu thủ đội ném phải bắt được bóng trả về sân pitch. Hai cầu thủ đánh bóng tiếp tục đánh và chạy lấy điểm “run” cho tới khi một trong hai bị loại.

Hiện nay, Cricket rất phổ biến ở Canada. Vào năm 1968, Canada trở thành quốc gia thành viên của Hội đồng Cricket quốc tế (ICC – International Cricket Council) để gia tăng cơ hội được góp mặt trong các giải đấu quốc tế. Đội tuyển Cricket quốc gia Canada thường xuyên góp mặt trong các giải đấu quốc tế. Cho đến thời điểm hiện tại đội tuyển Cricket quốc gia Canada đã thi đấu 5 giải ICC Cricket World Cup, lần cuối cùng là vào năm 2016. Hiện nay, Canada đang đẩy mạnh chương trình học, huấn luyện và các hoạt động liên quan đến môn thể thao.

Đánh bi trên băng (Curling)

Curling là một trong 10 môn thể thao phổ biến hàng đầu tại Canada. Để chơi môn thể thao này phải có 2 đội, mỗi đội gồm 4 người, mỗi người dùng 1 cây gậy để đẩy hòn bi đá trên bề mặt băng hướng tới đích.

Ngay từ đầu thế kỷ 19, vào năm 1807, Câu lạc bộ Curling đầu tiên ở Canada đã được thành lập. Cả nam và nữ đều có thể tham gia vào môn thể thao này nên điều này khá dễ hiểu khi Curling là một trong những môn thể thao nữ thu hút nhiều người xem nhất trên TV.

Quần vợt (Tennis)

Quần vợt là môn thể thao chơi giữa 2 người (đánh đơn) hay hai đội mỗi đội hai người (đánh đôi). Người chơi sử dụng vợt lưới để đánh một quả bóng bằng làm bằng cao su bọc nỉ rỗng gọi là bóng quần vợt về phía sân đối phương.

Quần vợt hiện nay là một môn thể thao rất phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Canada. Nó trở thành một trong những trò tiêu khiển thú vị của người dân Canada. Hiện nay số người chơi tennis ở Canada lên đến con số gần 3 triệu trong đó hơn 50% là những người trẻ tuổi.

Golf

Golf là một môn thể thao mà người chơi sử dụng nhiều loại gậy để đánh bóng vào một lỗ nhỏ trên sân golf, sao cho số lần đánh càng ít càng tốt.

Không giống như hầu hết các trò chơi với bóng khác, golf không yêu cầu một khu vực thi đấu được tiêu chuẩn hóa. Cuộc chơi diễn ra trên một sân đã được sắp xếp theo một chu trình định sẵn gồm 9 lỗ hoặc 18 lỗ. Mỗi lỗ trên sân đi kèm với một khu vực phát bóng và một khu vực putting green bao gồm lỗ golf (rộng 10,79 cm). Ở giữa hai khu vực trên là các dạng địa hình tiêu chuẩn khác như: Fairway (khu vực giữa tee box và putting green), rough (cỏ dài), hố cát và các chướng ngại vật (nước, đá, bụi cỏ). Tuy nhiên, mỗi khu vực lỗ trên sân có một thiết kế và cách bố trí khác nhau.

Có hai kiểu thi đấu golf chính, trong kiểu stroke play (chơi theo gậy) người chơi golf cố gắng đạt số gậy thấp nhất còn ở kiểu match play cá nhân hay đội chơi cố gắng thắng nhiều hố hơn đối phương. Stroke play là thể thức phổ biến nhất.

Scotland là quê hương của Golf. Khi người Scotland di cư sang Canada, họ đã mang theo Golf để truyền bá cho người dân Canada. Tháng 10/1973, Câu lạc bộ Golf đầu tiên của Canada – Montreal Golf Club (MGC) được thành lập bởi một người trẻ tên là Alexander Dennistoun đến từ Scotland, anh cũng là chủ tịch và đội trưởng đầu tiên của MGC. Sự kiện quan trọng đó là động lực để các sân golf nở rộ ở Canada và ở thời điểm hiện tại Canada là một trong những đất nước chơi golf giỏi nhất trên thế giới.

Đấu vật

Đấu vật cũng là một môn thể thao giải trí và cạnh tranh phổ biến ở Canada. Có nhiều hình thức đấu vật khác nhau phản ánh sự đa dạng và thành phần đa văn hóa của đất nước. Các môn đấu vật tự do và Greco-Roman là phổ biến ở cấp trung học và đại học. Trong số đông, các hình thức đấu vật phổ biến bao gồm judo, Sambo và vật lộn trình. Đấu vật được đưa đến Canada bởi các huấn luyện viên nước ngoài đến thăm đất nước này và bởi các sinh viên thể thao học ở các nước khác. Các đô vật người Canada tiếp tục phát triển mạnh trong các giải đấu quốc tế như giải vô địch thế giới và Thế vận hội Olympic. Một số đô vật nổi tiếng bao gồm: Daniel Igali, Nicolas Gill và Keith Morgan.

Người Canada coi trọng một số cuộc thi thể thao không chỉ bởi tính giải trí mà còn giúp họ khẳng định bản thân. Các hoạt động thể thao đa dạng mang đến cơ hội cho người Canada thể hiện tài năng của họ và cạnh tranh hiệu quả với các nước khác trên thế giới ở cấp độ quốc tế.

Trên đây là những môn thể thao được yêu thích nhất ở Canada với sự phổ biến trên toàn quốc. Khi du lịch Canada, du khách còn có cơ hội để xem các giải đấu cũng như tham gia các các bộ môn thể thao này.

Các phong tục truyền thống đón Tết Dương lịch thú vị của người Canada

Giống như các quốc gia Anh hoặc Mỹ, người dân Canada cũng đón Tết Dương lịch. Tuy nhiên với đặc thù về khí hậu mà “xứ sở lá phong” có nhiều hoạt động và phong tục đón mừng năm mới khác biệt mà không nơi nào có được.

Phong tục thú vị đầu tiên phải nhắc đến vào ngày Tết tại Canada là tục tắm nước lạnh trong thời tiết giá buốt. Nếu ở Việt Nam, những tập tục độc đáo ngày Tết có thể kể đến như là tục cướp chồng (Tây Nguyên), ăn trộm lấy may trong đêm giao thừa (người Lô Lô) hoặc gọi hồn (người Thái), thì ở Canada vào ngày đầu năm mới tất cả mọi người không phân biệt giới tính và tuổi tác đều mặc đồ bơi và nhảy xuống nước lạnh để đón chào một năm mới an lành và hạnh phúc.

Được biết, phong tục tắm nước lạnh bắt đầu từ năm 1920. Khi đó có một nhóm vận hành viên bước đi xuống sông đón năm mới. Từ đó, phong tục này trở nên phổ biến tại Canada, nhất là ý nghĩa nhân nghĩa của nó. Có thể kể đến Ban tổ chức lễ hội tắm nước lạnh tại Coronation Park (Oakville, Ontario) đã xây dựng hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ cho Tổ chức tầm nhìn thế giới (World Vision), hỗ trợ nhiều dự án nước sạch ở nước đang phát triển.

Nếu du khách đón năm mới tại Canada, đừng bỏ lỡ hoạt động tắm sông này. Ở Vancouver thuộc tỉnh British Columbia, người dân thường đến vịnh English. Ở Nova Scotia thì người ta thường chọn con sông ở Halifax để thực hiện phong tục tắm sông. Lúc này, trên khắp Canada, mức nhiệt độ có thể xuống dưới mức -20 độ. Tuy nhiên, hàng nghìn người vẫn “liều mình” nhảy xuống biển và ngâm mình trong nước lạnh buốt.

Xây tuyết quanh nhà cũng là một phong tục không thể thiếu vào mỗi dịp Tết tại “xứ sở lá phong”. Cứ mỗi dịp tết đến, người dân Canada thường xây tuyết xung quanh ngôi nhà. Khác với người Việt Nam làm cây nêu để xua đuổi ma quỷ, người Canada quan niệm rằng núi tuyết có khả năng ngăn ma quỷ vào phá hoại, như vậy một năm mới bình yên sẽ tới.

Trong vài năm gần đây tại Canada, người dân có những thú vui mới trong thời tiết giá rét liên quan đến tuyết và băng. Một trong số đó là câu cá trên băng.

Dịp năm mới luôn là lúc thời tiết tại Canada xuống thấp với tuyết phủ dày đặc ở những thành phố như Toronto và các khu vực gần phía Bắc. Mọi người tranh thủ thời tiết này để có thể đi picnic cùng người thân và câu cá tận hưởng không khí giao thừa. Các công ty dịch vụ cũng có thêm những tiện ích cho thú vui này của người dân, bao gồm hướng dẫn và một buổi nấu ăn, nơi mọi người có thể thưởng thức thành quả trong quá trình câu cá của mình.

Ngoài những hoạt động trên thì nhiều nơi trên đất nước Canada còn có các hoạt động khác diễn ra ngày đầu năm như: trượt băng, đi xe ngựa, hay chơi hocky… Và xem bắn pháo hoa là điều không thể thiếu được xem là biểu tượng quan trọng. Nó giúp đánh dấu khởi đầu năm mới mà mọi nơi trên đất nước này đều có.

Có thể nói, Lễ hội chào đón năm mới ở Canada luôn là một dịp vui chơi tưng bừng với nhiều phong tục thú vị. Dù phong tục tại Canada vào ngày Tết đa dạng như thế nào thì người dân vẫn luôn mong cầu cho một năm mới được bình an và hạnh phúc như những người dân ở các quốc gia khác trên thế giới. Du khách hãy đến du lịch Canada trong dịp này để khám phá nhiều điều thú vị hơn nhé!

Cười ra nước mắt với những luật lệ vô cùng kỳ quặc ở Canada

Canada được đánh giá là một trong những “thiên đường du lịch” hấp dẫn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, xứ sở này cũng khiến người ta phải cười ra nước mắt với rất nhiều điều luật kỳ quặc.

Những luật cấm áp dụng trên toàn lãnh thổ Canada

– Một người nào đó sẽ bị phạt nặng, thậm chí là tống giam nếu giả vờ thực hiện bất cứ điều gì liên quan tới bùa phép, phù thủy, trù ếm.

– Bất cứ ai cố ý dọa Nữ hoàng đều bị coi là phạm pháp trong Bộ luật hình sự của Canada.

– Cứ 5 bài hát phát trên radio thì phải có một bài hát được hát bởi ca sĩ người Canada. Điều luật này rất được các fan của Justin Bieber yêu thích.

– Người dân và kể cả khách du lịch nước ngoài không được phép lướt ván trên biển sau thời điểm hoàng hôn.

– Theo luật về đồ uống có cồn tại Canada, du khách chỉ được mang rượu từ bang này sang bang khác nếu có sự cho phép của ban quản lý đồ uống có cồn của tỉnh bang. Vào 28/5/2012, luật thay đổi đã cho phép mang rượu đi, nhưng chỉ rất ít.

– Nước ngọt không phải màu đen chứa caffein là phạm luật: Trước đây, các loại nước ngọt có gas nhưng không phải màu đen đều không được chứa caffein. Tuy nhiên, từ năm 2010, với sự ra đời của loại “nước tăng lực”, các loại nước ngọt màu sắc đã được phép có caffein với một lượng rất hạn chế.

– Không được trả quá nhiều tiền xu khi mua một món hàng. Nếu người mua dùng đồng 5 cent, người bán có thể từ chối bán món quá 5 CAD. Với đồng xu 1 USD, giới hạn là món hàng 25 CAD.

– Nhiều cộng đồng người Canada ban lệnh hạn chế dài hạn các loại dây chăng để phơi quần áo vì họ không thích quần áo chăng đầy quanh dây. Tuy nhiên, ngày nay do ý thức về vấn đề năng lượng ngày càng tăng, chính quyền các tỉnh bang đã yêu cầu xóa bỏ quy định này.

– Do cảm thấy xe tập đi sẽ khiến trẻ chậm phát triển khả năng vận động nên Chính phủ Canada đã ban lệnh cấm bán tất cả các sản phẩm xe tập đi cho trẻ em nước này kể từ năm 2004. Do đó, trẻ em phải buộc lòng tập đi theo cách truyền thống.

– Tất cả hoạt động liên quan đến truyện tranh mang nội dung tội phạm như sáng tác, xuất bản, in ấn và mua bán đều bị xem là phạm luật ở Canada.

Luật lệ áp dụng Ontario

– Trên toàn tỉnh Ontario, nếu khách không thanh toán được hóa đơn phòng ở thì khách sạn có quyền bán ngựa hay xe của khách.

– Bơ thực vật bị cấm bán ở Ontario cho đến tận năm 1995. Thậm chí, bơ thực vật còn bị cấm trên toàn Canada từ năm 1886 đến 1948.

– Theo ban quản lý cảng tại Toronto, bạn không được bơi ở bất cứ nơi nào tại cảng mà không được chỉ định được phép bơi lội.

– Chính quyền thị trấn Petrolia thuộc tỉnh Ontario ban hành điều luật “không được phép huýt sáo” này nhằm hạn chế tiếng ồn từ 23h đến 7h hôm sau. Tuy nhiên, trong luật lại viết rằng: “Nghiêm cấm la hét, huýt sáo và hát hò vào mọi lúc”.

– Tại Sudbury thuộc tỉnh Ontario, từ năm 1973, những người đi xe đạp có thể gắn lên xe họ còi, chuông. Tuy nhiên, với mức phạt lên đến 5.000 USD khi kéo còi gây ồn.

– Không được phép tắm khỏa thân ở Bancroft.

– Tại Toronto, khi ở công viên, người dân không được phép có các hành động quá khích, bạo lực, đe dọa, cũng không được sử dụng ngôn ngữ bất lịch sự.

– Người dân không được phép trèo lên các cây xanh thuộc sở hữu của thành phố, như trong công viên hay trên đường đi tại Oshawa.

Tại Windsor, bất kỳ ai cũng không được phép chơi nhạc cụ ở công viên, văn phòng hay các khu dân cư theo các thức hoặc với âm lượng gây mất trật tự.

Luật lệ áp dụng tại Alberta

– Ở bang Alberta, việc sơn màu một chiếc thang gỗ vì bất cứ mục đích gì cũng là phạm pháp.

– Muốn nuôi chuột như thú cưng hoặc mua bán chuột phải có giấy phép đặc biệt.

– Tại St. Paul thuộc tỉnh bang Alberta, bất kỳ đứa trẻ nào dưới 15 tuổi ở nơi công cộng đều phải đi cùng ba mẹ hoặc người bảo hộ, từ 24h đến 6h hôm sau.

Luật lệ áp dụng tại Prince Edward Island

Tại tỉnh bang Prince Edward Island, việc dựng một người tuyết cao trên 30 inches là không được phép.

Luật lệ áp dụng ở Halifax, Nova Scotia

Theo luật vùng Halifax, các tài xế taxi không được phép mặc áo cộc tay không cổ. Họ có thể mặc áo sơ mi, hoặc áo cánh kiểu quân sự có cổ và tay áo, quần dài xếp li… Ngoài ra, họ phải mang giày và tất, luôn luôn giữ quần áo sạch sẽ.

Luật lệ áp dụng ở Fredericton, New Brunswick

Tại thành phố Fredericton thuộc tỉnh bang New Brunswick, bạn sẽ phạm luật khi khoác một con rắn, trăn hoặc một loài bò sát nuôi như thú cưng trên vai ở nơi công cộng, vì người ta cho rằng đó là một việc làm nguy hiểm.

Luật lệ áp dụng tại Montreal, Quebec

Bất kỳ ai cũng không được phép chửi thề bằng tiếng Pháp tại Montreal – thành phố lớn nhất của tỉnh bang Quebec.

Trên đây chỉ là một vài trong vô số những điều luật kỳ quặc khác ở “xứ sở lá phong” khiến cho người ta phải cười ra nước mắt. Tuy vậy, nếu chúng đã trở thành những lệnh cấm thì khi tới du lịch Canada, du khách cần lưu ý tránh mắc phải, nếu không sẽ bị phạt tiền một cách oan uổng, thậm chí phải đi “bóc lịch”.

Một số nét đặc trưng trong văn hóa Canada

Canada là một quốc gia có nền văn hoá đa dạng, với sự giao thoa của nền văn hoá Mỹ cũng như văn hoá Châu Âu. Đây cũng là đất nước có sự di cư lớn nên tương đối cởi mở, qua thời gian là một đất nước giàu văn hoá. 

Trong những quốc gia mang nền văn hóa Châu Mỹ, Canada là quốc gia mơ ước của rất nhiều người. Đây được biết đến là một đất nước đa văn hóa và đa sắc tộc. Bởi Chính phủ quốc gia này khá rộng mở với người nhập cư và du học sinh. Ngoài ra, Canada cũng rất nhiều chính sách nhằm thúc đẩy và duy trì sự đa văn hóa đặc biệt này. Tuy vậy, toàn bộ quốc gia Canada vẫn chính là một bức tranh toàn cảnh mô tả một nền văn hóa hoàn chỉnh. Từng chi tiết trong bức tranh tổng thế ấy tập hợp các tôn giáo, tín ngưỡng riêng biệt. Và thậm chí là các tiểu văn hóa dân tộc đầy sắc màu.

Đến với “xứ sở lá phong”, chắc hẳn các du khách sẽ được trải nghiệm nền văn hóa đặc sắc. Chắc chắn phải có lý do đặc biệt thì quốc gia này mới nhận được sự ưa chuộng của nhiều người trên khắp thế giới đến vậy. Nhiều người có cơ hội sống và học tập hay làm việc ở đây đã chia sẻ Canada là nơi đáng sống và học hỏi. Du khách sẽ được đề cao quyền con người và có cơ hội phát huy hết khả năng của mình.

Lá phong – Biểu tượng của văn hoá Canada

Biểu tượng của Canada là lá phong – tượng trưng cho sức mạnh, văn hóa và lịch sử lâu đời của quốc gia này. Ngay từ đầu thế kỷ 18, hình ảnh lá phong được chính thức coi là biểu tượng của Canada. Sau đó nó xuất hiện rộng rãi trên Quốc kỳ, tiền tệ và cả Quốc huy của Canada.

Canada còn có các biểu tượng khác cũng khá nổi tiếng như: con hải ly, con ngỗng Canada, vương miện, cột gỗ…

Sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Pháp

Gần 60% người dân của quốc gia này sử dụng tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Mặt khác, 22% dân số lại sử dụng tiếng Pháp. Đa số người nói tiếng Pháp ở Canada sinh sống tại tỉnh bang Quebec, Ontario, New Brunswick và Manitoba. Bên cạnh đó, một số thổ ngữ cũng được xem là ngôn ngữ chính thức tại các lãnh thổ tự trị, đặc biệt như tiếng Inuktitut.

Điệu nhảy truyền thống T’sasala

Canada là một đất nước đa sắc tộc, bởi nó chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa và truyền thống của nước Anh, nước Pháp và cả thổ dân bản địa. Tuy nhiên, tại Canada, người ta cho rằng các nhóm thổ dân chính là những người đầu tiên sáng lập ra quốc gia. Vì thế, công tác duy trì và bảo vệ nền văn hóa truyền thống luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của đất nước. Trong đó, điệu nhảy T’sasala chính là một trong những nét văn hóa truyền thống nổi tiếng của quốc gia này. Điều đó được thể hiện bởi việc từ những đứa trẻ nhỏ cũng đã được luyện tập và biểu diễn điệu nhảy hoang dã này.

Khúc côn cầu là bộ môn thể thao sở trường của người Canada

Ở Canada, môn khúc côn cầu rất thịnh hành với khoảng 6.000.000 người chơi môn thể thao này. Ngoài ra, còn có các môn thể thao khác là bóng đá, trượt tuyết, bóng chày, gôn, bóng chuyền… Quốc gia này đã từng là chủ nhà của Thế vận hội Mùa hè 1976, tổ chức tại Montreal; Thế vận hội Mùa đông 1988, tại Calgary; Giải bóng đá vô địch thế giới U20; hay Thế vận hội Mùa Đông 2010 tại Vancouver và Whistler, British Columbia.

Trang phục

Trang phục truyền thống của người Canada chịu ảnh hưởng của các nước Châu Âu hàng trăm năm trước. Hiện nay, hầu hết những bộ trang phục này đã được bảo quản tại bảo tàng McCord và bảo tàng Royal Ontario. Những trang phục truyền thông của người Canada thường xuất hiện trong các lễ hội truyền thống.

Ngày nay, người Canada đã hiện đại hóa trang phục của mình theo phong cách thời trang của thế giới. Trang phục phổ biến của người Canada hiện nay vào mùa đông là những chiếc áo khoác, áo len dày và nặng, đặc biệt là những chiếc mũ đan len giữ ấm cho đầu. Vào mùa hè và mùa thu, người dân lựa chọn những chiếc quần jeans và T-shirt (áo phông) có chất liệu vải cotton, vải nhẹ,…

Nghệ thuật và kiến trúc

Có thể nói rằng nghệ thuật đất nước Canada chịu ảnh hưởng sâu sắc của Châu Âu, qua đó hình thành nên lớp nghệ sĩ như: David Mine, Paul Kane, Cornelous Krieghoff – chuyên vẽ tranh phong cảnh nhưng đậm chất phong cách Tây Âu. Tuy nhiên, trước khi người Châu Âu đến, các thổ dân Bắc Mỹ đã có nền nghệ thuật sơ khai, chủ yếu là sự kết hợp giữa âm nhạc và tranh vẽ.

Về kiến trúc, sự xâm chiếm của Anh và Pháp mang đến Canada âm hưởng của các trào lưu như Tân Anh (New England), Baroque, phong cách Victoria và Gothic cổ điển. Kiến trúc kiểu lâu đài được ứng dụng trên vô số tòa nhà Chính phủ và các công trình công cộng, đơn cử như trụ sở Tòa án Tối cao.

Đến thời hiện đại, xu hướng tối giản, hiện đại và đơn sắc lại thống trị dòng kiến trúc chủ đạo tại Canada, thể hiện qua công trình Fifth Pavilion của Bảo tàng Mỹ thuật Montreal và Telus Sky ở Calgary.

Xứ sở của những lễ hội

Canada được mệnh danh là xứ sở của những lễ hội. Mỗi thời điểm trong năm, tại mỗi vùng miền đều có những lễ hội mang nét đặc trưng văn hoá riêng, thể hiện rất nhiều truyền thống tươi đẹp của đất nước ở vùng Bắc Mỹ này. Những lễ hội được tổ chức tại đây thường rất sôi động, sặc sỡ và thu hút, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Thiên đường của ẩm thực phong phú, đa dạng

Canada là quốc gia của dân nhập cư, lại có truyền thống và chính sách khuyến khích sự đa dạng về văn hóa. Vì vậy, hầu hết các loại thức ăn đặc thù của các dân tộc đều có ở Canada.

Văn hóa giao tiếp

Văn hóa chào hỏi của người Canada chịu nhiều ảnh hưởng của các nước phương Tây nên có rất nhiều điểm mà chúng ta có thể cảm thấy quen thuộc. Người Canada trong lần đầu gặp gỡ thì thông thường nhất vẫn là những cái bắt tay và chào hỏi lịch sự. Bắt tay lịch sự đồng thời luôn hướng ánh mắt vào người đối diện chính là cách chào hỏi phổ biến nhất của đất nước Canada.

Sau này khi đã trở nên thân thiết hơn thì thì ngoài việc bắt tay thì còn có thêm các cử chi như ôm và hôn nhẹ lên gò má. Hành động này thì chỉ được sử dụng trong chào hỏi giữa nam và nữ hoặc nữ với nữ chứ giữa nam với nam thì vẫn đa phần là bắt tay.

Người Canada cũng thích được gọi bằng tên riêng, tuy nhiên trong lần gặp mặt đầu tiên, du khách vẫn nên xưng hô bằng họ cho đến khi thân thiết hơn nếu không du khách sẽ bị coi là bất lịch sự.

Người Canada tương đối coi trọng vẫn đề riêng tư từ đó mà nhiều khi hỏi về các vấn đề cá nhân sẽ bị coi là bất lịch sự.

Ngoài các vấn đề cá nhân thì các vấn đề về tiền bạc cũng được coi là một trong những chủ đề nên tránh trong việc giao tiếp với người Canada. Nếu đã trở nên thân thiết và ở những nơi riền tư thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, nếu du khách thảo luận về vấn đề này ở những nơi công cộng hay với người mới quen thì hoàn toàn có thể bị coi là khoe khoang. Ở một số nơi nhất định tại Canada còn có luật cấm nói về những vấn đề lương hay tiền bạc.

Nổi tiếng thế giới với sự lịch sự của mình vì vậy mà từ “xin lỗi” cũng được sử dụng rất nhiều trong giao tiếp hằng ngày của người Canada. Với họ từ “xin lỗi” không có nghĩa là họ mắc phải sai lầm mà hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa thể hiện sự tôn trong của họ đối với đối phương trong cuộc giao tiếp.

Người Canada không thích sự vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn đề ngay sau khi đã chào hỏi và trở nên đủ thân thiết trong cuộc hội thoại.

Văn hóa ăn uống

Chờ chủ nhà bắt đầu dùng bữa rồi mới được dùng, không nên ăn trước khi chủ nhà bắt đầu.

Khi ngồi vào bàn ăn, không chống khủy tay hoặc tì người vào bàn. Khi ăn thì cầm dĩa bằng tay trái và cầm dao bằng tay phải.

Khi ăn, người Canada luôn hạn chế việc phát ra tiếng động bằng cách không để chén đĩa chạm vào nhau. Khi nhai thức ăn cũng hết sức nhẹ nhàng và lịch sự.

Có thể từ chối dùng thêm đồ ăn hay uống mà không cần giải thích bất cứ điều gì. Để thừa một chút thức ăn ở cuối bữa vẫn có thể được chấp nhận.

Trong một bữa tiệc ngày nay ở Canada, việc chúc rượu mà không cụng ly ngày càng trở nên phổ biến vì việc cụng ly đôi khi bị coi là quá khách sáo. Trừ những dịp lễ cưới hay những bữa tiệc kỷ niệm, thì việc chúc rượu theo cách trang trọng cũng ít phổ biến. Tuy nhiên, khi ai đó làm việc này, mọi người cũng đều hưởng ứng cho dù đang ở trong hoàn cảnh nào. Người Canada chỉ chúc rượu trang trọng một lần trong suốt buổi tiệc. Thậm chí, nhấc ly mới rót lên và nói chúc mừng ở những lần sau cũng không phù hợp với phong tục và có thể bị xem là học đòi.

Khi đến bữa ăn, người Canada cũng chú ý đến việc giảm âm lượng điện thoại của mình xuống đến mức tối đa, đặc biệt là khi ăn tại nhà hàng và quán ăn sang trọng. Bên cạnh đó, khi đang trong bữa ăn, họ sẽ hạn chế nghe điện thoại. Nếu nghe, người ta hãy xin phép ra ngoài, để người trong bàn ăn có cảm giác không được tôn trọng.

Khi dự những bữa tiệc buffet, người Canada luôn gắp thức ăn vừa đủ, không nếm đồ ăn ngay tại quầy. Khi lấy thức ăn xong thì liền nhường chỗ cho người khác. Trong bàn ăn, họ tuyệt đối không sử dụng bát, đĩa, thìa chung với bất kỳ ai, và cũng không lấy giúp người khác bằng dụng cụ đồ ăn của mình, đồng thời cũng không dùng dụng cụ đó để đưa lên miệng nếm.

Người Canada thường có thói quen dùng khăn trải lên đùi để ăn. Đây chính là cách tránh thức ăn rơi rớt lên người. Khi ăn xong, họ sẽ kéo nhẹ một đầu khăn để lau miệng.

Khi ăn xong trước và muốn rời khởi bàn ăn khi những người còn lại còn đang ngồi thì người Canada khéo léo xin phép với một lý do nào đó hợp lý để không bị đánh giá là mất lịch sự.

Người Canada thường quan niệm rằng, rau và trái cây chính là hai món ăn chính giúp cân bằng dinh dưỡng. Vì vậy mà trong bữa ăn sáng và trưa của họ nhất thiết phải có rau cùng trái cây. Hầu hết các món ăn của họ, rau sẽ chiếm hơn một nửa, điều này sẽ khiến cho bữa ăn không bị nhàm chán và sẽ ăn được nhiều hơn. Sau bữa ăn, họ thường ngồi và cũng ăn trái cây cho đến khi hết.

5. Đi giày

Tại Canada, việc tháo giày khi vào nhà là phổ biến và cần làm. Một trong những yếu tố liên quan đến việc tháo giày là khí hậu nóng, lạnh, hay có tuyết. Một vài gia đình yêu cầu tháo giày vì lý do truyền thống, nhưng nhiều hơn là do tránh để tuyết theo vào nhà.

6. Tặng quà

Thông thường, người Canada thường tặng quà nhau trong dịp Sinh nhật và Giáng sinh. Nếu du khách được một người Canada mời đến nhà dùng bữa tối, du khách có thể chọn mua một hộp chocolate, một bó hoa hay một chai rượu. Đặc biệt ở thành phố Quebec, nếu du khách muốn tặng rượu cho ai đó, hãy chắc chắn đó là chai rượu ngon nhất và tốt nhất. Hoặc không, khi được mời đến dùng bữa tối của người Quebec, tặng hoa cũng là một hình thức phổ biến và được yêu thích. Nhưng cần nhớ là không được tặng hoa lily trắng, vì ở Canada, hoa đó chỉ dùng trong đám tang. Điều lưu ý, Canada không có văn hóa tặng tiền thay cho một món quà.

Luật pháp Canada thừa nhận hôn nhân đồng giới

Quốc gia này có rất nhiều các chính sách xã hội nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân như: chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chính sách thuế, không có án tử hình, kiểm soát chặt chẽ việc mua bán sử dụng súng và vũ khí, thừa nhận kết hôn đồng tính… Do vậy, nguyên tắc hàng đầu trong nói chuyện với người Canada là du khách không được thể hiện ẩn ý “phê phán” về văn hóa, sắc tộc, tôn giáo, hay vấn đề về giới tính tại đây.

Hút thuốc lá nơi công cộng là điều cấm tại Canada

Ở Canada có quy định cấm hút thuốc trong nhà hàng, văn phòng, các cơ sở công cộng. Ai muốn hút thuốc phải ra ngoài trời, bất kể khi đó đang là mùa đông hay mưa gió.

Đất nước này cũng có những quy định rất ngặt nghèo trong việc bán rượu và uống rượu. Vào bữa ăn trưa thường họ không uống đồ uống có cồn, bữa tối nhiều lắm cũng chỉ có một cốc rượu Vang.

Trên đây là một số điểm đặc trưng của văn hoá Canada. Nếu du khách có hứng thú với nền văn hóa đặc sắc này và muốn khám phá nhiều hơn, hãy Book Tour Canada của chúng tôi nhé!

Khám phá nét độc đáo của St. Patrick’s Day ở Canada

Người ta thường biết đến Canada là một trong những quốc gia phát triển và giàu có nhất thế giới với những thành phố lớn và sôi động. Nhưng du khách sẽ bất ngờ khi biết Canada cũng có những lễ hội truyền thống rất đặc trưng, khác hẳn với sự hiện đại ấy, điển hình như St. Patrick’s Day (Ngày Thánh Patrick).

St. Patrick’s Day thường được tổ chức vào ngày 17/3 hàng năm tại Canada. Tuy không phải là một ngày lễ chính thức của “xứ sở lá phong”, nhưng đây lại là một dịp ăn mừng lớn của người dân đất nước này và của nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Lội ngược dòng lịch sử lại năm 387, đó là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của St. Patrick, vị thánh đỡ đầu của người dân Ireland. Ông chính là người đã truyền giảng đạo Kito giáo lên hòn đảo này. Mặc dù vậy, Thánh Patrick lại được sinh ra tại Kilpatrick, Scotland. Tuy nhiên, khi ông mới 16 tuổi, ông đã bị bắt trong một cuộc đột kích và bị đưa đến xứ Wales sống kiếp nô lệ.

Trong khoảng thời gian này, ông học được phong tục và ngôn ngữ của người bản xứ. Trong thời điểm khó khăn và sóng gió nhất của cuộc đời, ông đã tìm tới Chúa trời. Truyền thuyết kể rằng, vào năm Patrick 20 tuổi, Chúa trời đã xuất hiện trong giấc mơ của ông và khuyên nhắc ông hãy đi về phía bờ biển. Ông nhờ nghe theo lời chỉ dạy mà đã trốn thoát được.

Lúc này, các thủy thủ đã tìm thấy ông và đưa ông về với Anh Quốc, nơi ông một lần nữa đoàn tụ được với gia đình. Tuy nhiên, Ireland vẫn luôn vẫy gọi ông quay trở lại trong những giấc mơ, vì vậy Patrick đã quyết định chính thức đi theo đạo. Ông được tấn phong làm giám mục và quay trở lại Emerald Isle vào tháng 3 năm 433. Từ khoảng thời gian này cho đến lúc mất đi, Thánh Patrick đã đi khắp đất nước Ireland để truyền và giảng đạo cho tất cả mọi người.

Vậy tại sao một ngày lễ của Ireland lại trở nên phổ biến như vậy tại Canada? Thực sự có thể kể ra 2 lý do chính về nguyên nhân St. Patrick’s Day lại được tổ chức rầm rộ ở Canada. Lý do thứ nhất được lý giải như sau: Người dân Ireland không chỉ di cư đến Canada (tập trung đông nhất tại hòn đảo Prince Edward), mà còn dịch chuyển nơi sinh sống đến nhiều nước tại khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu. Những con người Ireland nổi tiếng với sự thân thiện, lúc này mang theo những ngày lễ và đặc trưng văn hóa của mình đi chu du và du nhập vào các nền văn minh khác trên thế giới, biến Thánh Patrick trở thành vị thánh đỡ đầu cho bất cứ nơi nào họ đặt chân đến. Ở lý do thứ hai, trong tâm trí người dân Canada, ngày 17 tháng 3 có vai trò như Ngày Lễ Phục sinh, là một mốc thời gian đánh dấu sự suy tàn của mùa đông giá lạnh và sự khởi đầu của một mùa xuân mới. Ngày Thánh Patrick lúc này chính là một cơ hội để ăn mừng sự chấm dứt của một khoảng thời gian khắc nghiệt, sự đâm chồi nảy lộc của một mùa xuân ấm áp. Từ hai nguyên nhân chính này cho thấy, mặc dù St. Patrick’s Day là một ngày lễ của Ireland nhưng lại trở nên phổ biến tại Canada.

Nếu du khách đang du lịch Canada vào ngày lễ này, du khách sẽ dễ dàng có thể nhận thấy người dân Canada đang chuẩn bị ăn mừng St. Patrick’s Day với đường phố tràn ngập đồ trang trí màu xanh lá cây và biểu tượng của cỏ ba lá. Nguyên nhân trong Ngày Thánh Patrick’s lại dùng màu xanh lá cây là vì tương truyền lúc sinh thời, Thánh thường dùng cây cỏ 3 lá để giải thích cho thuyết “Ba ngôi một thể” của Thiên Chúa: Cha, Con và các đức Thánh thần. Vì vậy, ngày nay, màu xanh lá cây và hình ảnh cỏ 3 lá là đặc trưng của St. Patrick’s Day.

Đối với người Ireland, màu xanh còn thể hiện tình yêu dân tộc hay niềm tin tôn giáo, từ những cụ bà đeo khăn choàng xanh, cài huy hiệu xanh đến các cô gái đeo bờm xanh đến cả nhưng cô bé cậu bé nhỏ mặc những bộ cánh dễ thương cũng trong một màu xanh ngắt. Vốn người Ireland mặc xanh lá bởi họ cho rằng màu này giúp họ trở nên tàng hình với những chú quỷ lùn leipreachán, ai bị leipreachán bắt gặp sẽ bị nhéo đau điếng.

Lúc này, toàn bộ mọi thứ trên khắp các con đường và góc phố ở “xứ sở lá phong” dường như được nhuộm thành màu xanh. Từ con người đến đồ vật, thức ăn… tất thảy đều khoác lên mình bộ cánh màu xanh. Có người còn trang trí cỏ ba lá lên mặt, lên quần áo và các vật dụng, có người thì chọn cho mình một chiếc mũ yêu tinh đầy tinh nghịch, hay ở một vài nơi, người dân còn nhuộm xanh cảm một dòng sông, đài tưởng niệm và thậm chí cả khu trượt tuyết cũng biến thành màu xanh.

St. Patrick’s Day ở Canada còn diễn ra với nhiều sự kiện lớn, có thể kể tới Lễ Diễu hành Toronto St. Patrick’s Day Parade – một trong những lễ diễu hành lớn nhất tại khu vực Bắc Mỹ. Xuất hiện từ năm 1988, cho đến này, lễ diễu hành đã đạt đến quy mô bao gồm: 100 tổ chức, 32 Hiệp hội Ireland, 2.000 người diễu hành, 30 xe diễu hành, 14 ban nhạc cùng nhiều những con số ấn tượng khác.

Tại Montreal, người dân cũng chào mừng St.Patrick’s Day với lễ diễu hành hoành tráng không kém, bắt nguồn từ năm 1824. Ngày Thánh Patrick có lẽ cũng là ngày mà nhu cầu tiêu thụ đồ uống có cồn được đẩy lên cao nhất tại Canada.

Ngoài St. Patrick’s Day, “xứ sở lá phong” còn có rất nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc đang chờ đón du khách đến trải nghiệm. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không Book Tour Canada của chúng tôi để có cơ hội tham gia các lễ hội đặc sắc này?

Tham gia 9 lễ hội đặc sắc ở Ottawa, Canada

Ottawa thơ mộng, hiền hòa là thủ đô của đất nước Canada xinh đẹp. Không chỉ nổi tiếng với cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa trù phú, nơi đây còn thu hút khách du lịch bởi nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc.

1- Lễ hội Winterlude

Mùa đông được người dân Canada được chào đón nồng nhiệt ở thủ đô Ottawa trong 3 ngày cuối tuần đầu tiên của tháng 2 với Lễ hội trượt băng Winterlude gần 40 năm tuổi. Có nhạc sống và giải trí ở cả trong nhà và ngoài trời nhưng điểm nổi bật chắc chắn là Đường trượt băng Rideau Canal.

Mỗi mùa đông lạnh, Kênh Rideau Ottawa trở thành sân trượt băng lớn nhất thế giới kéo dài đến 5 dặm. Đường băng được sử dụng như một phương tiện đi lại và giải trí. Ngoài trượt băng, American Express Snowball còn là một địa điểm hòa nhạc ngoài trời tổ chức nhạc sống và các trò giải trí khác.

Du khách nếu đến đây vào thời điểm này cũng sẽ có cơ hội ngắm nhìn những bức tượng băng được điêu khắc cực kì độc đáo và đẹp mắt.

2- Lễ hội hoa Tulip

Vào tháng 5 hàng năm, khi hoa Tulip nở rộ khắp nơi trên thành phố Ottawa, Lễ hội hoa Tulip lại được khai mạc với sự tham dự của các lãnh đạo cấp cao trong Chính phủ Canada và Hoàng tộc Hà Lan, cung với đó là hàng triệu khách du lịch từ các nơi trên thế giới.

Việc tổ chức Lễ hội hoa Tulip có tác dụng bảo tồn món quà đặc biệt từ Hà Lan nhằm thể hiện tình hữu nghị giữa hai nước. Không những thế, lễ hội này còn nhằm tôn vinh hoa Tulip như một biểu tượng của hòa bình và tình hữu nghị quốc tế.

Hàng năm, Lễ hội hoa Tulip diễn ra tại hai địa điểm chính là Công viên Commissioners và Công viên Major’s Hill. Tại khu vực Công viên Commissioners có khoảng 300.000 cây thuộc hơn 50 chủng loại tranh nhau khoe sắc. Du khách đến đây sẽ được chiêm ngưỡng những thảm hoa đẹp, cùng những tác phẩm hoa độc đáo.

Một địa điểm trung tâm của lễ hội mà du khách không thể bỏ qua đó là Công viên Major’s Hill. Để tôn vinh nguồn gốc hữu nghị quốc tế của sự kiện này, ban tổ chức Lễ hội hoa Tulip đã dựng lên Khu lều trại quốc tế tại đây và biến lễ hội thành một “lễ hội không có hàng rào” đúng nghĩa. Tất cả các hoạt động lễ hội đều miễn phí.

Khu lều trại quốc tế là địa điểm để hơn 20 đại sứ quán và các nhóm hoạt động văn hóa địa phương, giới thiệu các sản phẩm độc đáo của mình cho khách quốc tế. Du khách có thể thưởng thức các hoạt động văn hóa trên Sân khấu hữu nghị quốc tế, thưởng thức các món ăn từ mọi miền thế giới, khám phá những miền đất mới, tìm kiếm điểm đến cho những chuyến du lịch sắp tới của mình hoặc mua quà lưu niệm đa quốc tịch.

Bên cạnh đó, khi đến với lễ hội, du khách còn được hòa mình vào những trò chơi mang tính giải trí nhưng vô cùng ý nghĩa. Điều đặc biệt, để lại nhiều ấn tượng nhất cho bất cứ ai khi đến tham dự lễ hội này chính là việc được tham gia tiệc trà vui nhộn Mad Hatter. Đây là buổi tiệc trà, đem lại cho du khách sự sảng khoái nhất mang lại những tiếng cười vui vẻ và đầy sự gần gũi.

3- Lễ hội Poutine Ottawa

Những người yêu thích ẩm thực và lễ hội ẩm thực thì không nên bỏ lỡ kế hoạch tham gia Lễ hội Poutine Ottawa. Ottawa Poutine Fest được tổ chức vào tháng 5 và đây là một lễ hội rất sôi động. Lễ hội này sở hữu một khẩu hiệu nổi tiếng, và đó là “#spreadthecurd”. Tại sự kiện này, du khách có thể tận hưởng món Poutine truyền thống mang đậm văn hóa Canada.

Cuộc thi ăn Poutine, Spud up Relay, cuộc đua bao tải khoai tây cũng là một phần không thể thiếu trong suốt sự kiện tuyệt vời này. Âm nhạc và các hoạt động giải trí sẽ là những điểm đầy hứa hẹn khác. Sự đa dạng của các món ăn với nhịp đập hấp dẫn của âm nhạc là sự kết hợp tuyệt vời cho du khách từ khắp nơi trên thế giới.

4- Lễ hội bia Orléans Craft

Orléans là một vùng ngoại ô trù phú nằm ở phía Đông thủ đô Ottawa. Hằng năm, vào những ngày cuối tuần thứ hai của tháng 6, nơi này lại tổ chức Lễ hội bia Orléans Craft náo nhiệt. Đây là sự kiện được nhiều người mong chờ bởi không khí nhộn nhịp, vui tươi của âm nhạc, ẩm thực đường phố hấp dẫn và những loại bia hảo hạng đến từ các nhà máy rượu vang trứ danh trong vùng.

Tham gia lễ hội này, du khách không chỉ được thưởng thức 35 loại bia khác nhau cùng bạn bè mà còn có thể thoải mái thư giãn giữa bầu không khí lễ hội tưng bừng, sôi động.

5- Tuần lễ Ý

Vào tháng 6 hằng năm, Tuần lễ Ý sẽ được tổ chức trên đường Preston ở trung tâm phố Little Italy thuộc Ottawa, Canada. Lễ hội kéo dài trong khoảng 7-10 ngày, nhằm tôn vinh nền văn hóa – lịch sử – nghệ thuật độc đáo của đất nước hình chiếc ủng.

Tham gia Tuần lễ Ý, du khách sẽ được trải nghiệm những nét phong tục – tập quán đậm chất Ý với các hoạt động diễu hành xe đạp, biểu diễn âm nhạc, trình diễn nghệ thuật, nhạc kịch,… cũng như thưởng thức ẩm thực truyền thống của quốc gia này.

6- Lễ hội bản địa Hạ chí 

Lễ hội bản địa Hạ chí được tổ chức vào ngày 21/6 hàng năm, là một ngày lễ ở Canada – Ngày của người bản địa quốc gia dành riêng cho văn hóa và di sản của người bản địa. Ngày hạ chí là ngày thiêng liêng đối với nhiều cộng đồng bản địa và được công nhận là một ngày có ý nghĩa đặc biệt.

Lễ hội bản địa Hạ chí tạo cơ hội cho tất cả cư dân Ottawa tôn vinh văn hóa của những cư dân đầu tiên. Lễ hội nghệ thuật thân thiện với gia đình thu hút hơn 40.000 du khách. Một sự kiện kéo dài 6 ngày được tổ chức tại 3 địa điểm. Lễ khai mạc và biểu diễn được tổ chức tại Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia. Ngày hôm sau, Công viên Major’s Hill tổ chức Buổi hòa nhạc Trực tiếp Ngày AB của APTN. Sân khấu Cộng đồng dành riêng cho các tiết mục địa phương, trong khi buổi hòa nhạc Sân khấu chính bắt đầu lúc 7 giờ tối.

Công viên Vincent Massey tổ chức Tập hợp Thanh niên và Người cao tuổi, tiếp theo là Cuộc thi Quốc tế Pow Wow với Người dẫn chương trình Drum Black Bear cũng như hàng trăm tay trống và vũ công từ khắp Canada và Hoa Kỳ.

Gian hàng The Reconciliation tại Công viên Vincent Massey tổ chức một cuộc triển lãm dành riêng cho các nền văn hóa bản địa, lịch sử được chia sẻ và tầm nhìn tương lai về “Hòa giải thông qua Đổi mới Xã hội”. Du khách cũng có thể tìm hiểu về lãnh thổ Algonquin mà ngày nay được gọi là Ottawa.

7- Lễ Quốc khánh Canada

Vào lễ Quốc khánh Canada 1/7 hằng năm, một buổi lễ mít-tinh lớn sẽ diễn ra tại Tòa nhà Quốc hội Ottawa với sự tham gia của hàng trăm nghìn người. Để bày tỏ lòng yêu nước và tự hào dân tộc, trong dịp này, đa số người dân mặc trang phục đỏ – trắng theo màu Quốc kỳ. Họ vừa tham gia các hoạt động kỷ niệm vừa hát vang Quốc ca Canada.

Vào ngày này, tất cả bảo tàng quốc gia của Canada đều mở cửa miễn phí. Thủ đô Ottawa còn tổ chức các buổi bắn pháo hoa, hòa nhạc ngoài trời trên đồi Hill, thi đấu khúc côn cầu cùng nhiều hoạt động kỷ niệm trọng thể khác.

8- Lễ hội âm nhạc Bluesfest

Tạp chí Billboard đã xếp hạng Lễ hội âm nhạc Bluesfest là một trong 10 lễ hội âm nhạc ngoài trời hàng đầu trên thế giới. Lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1994 tại thủ đô Ottawa

Lễ hội âm nhạc Bluesfest sẽ kéo dài trong 2 tuần đầu tiên của tháng 7, với sự góp mặt của nhiều thể loại và tổ chức cả các hoạt động lớn và nhỏ khác.

Bluesfest mang đến trải nghiệm âm nhạc sống động, đẳng cấp với sự tham gia biểu diễn của những nghệ sĩ hàng đầu Canada và thế giới: Backstreet Boys, Mia Kelly, Pokey Lafarge, DJ Mendez, Snoop Dogg, Rebecca Noelle, Abby Stewart, David Vest,…

9- Lễ hội Ẩm thực và rượu Vang

Cứ vào tháng 10 hàng năm, tại thủ đô Ottawa xinh đẹp của “xứ sở lá phong” sẽ tổ chức sự kiện trưng bày Ẩm thực và Rượu vang, diễn ra khoảng 3 ngày, chủ yếu tổ chức vào mùa xuân là chủ yếu.

Tham gia 9 lễ hội đặc sắc ở Ottawa như chúng tôi đã giới thiệu trên đây hẳn sẽ giúp du khách hiểu thêm về văn hóa, ẩm thực của người dân Canada cũng như có được những trải nghiệm thú vị. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không Book Tour Canada của chúng tôi để tận hưởng hành trình khám phá trọn vẹn và ý nghĩa?

Canada – đất nước với 2 ngôn ngữ chính

Canada là một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc vô cùng phong phú nhưng vẫn đảm bảo được sự hòa quyện giữa các nền văn hóa với nhau, tất cả tạo nên một nét đẹp riêng biệt cho vùng đất mơ ước này. Bên cạnh những vấn đề về cuộc sống cũng như văn hóa của quốc gia này thì một trong những điều mà hầu hết mọi người hay quan tâm khi tìm hiểu về đất nước Canada đó là về vấn đề ngôn ngữ.

Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía Đông sang Thái Bình Dương ở phía Tây, phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Nam giáp với Hoa Kỳ, Tây Bắc giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ. Mang nền khí hậu ôn đới thời tiết Canada chia thành bốn mùa rõ rệt mùa đông tuyết rơi, băng tuyết bao phủ, mùa hè, xuân, thu ấm áp, dịu mát. Canada có nền kinh tế rất phát triển và đứng vào nhóm top đầu thế giới, kinh tế Canada dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, tươi đẹp, đa dạng và hệ thống thương mại phát triển cao.

Đất nước Canada còn nổi tiếng là một xã hội đa ngôn ngữ. Canada được thành lập 1867, là một trong những quốc gia thu hút được rất nhiều người nhập đến từ nhiều nơi trên thế giới. Chính vì vậy mà Canada có một nền văn hóa cũng như ngôn ngữ vô cùng đa dạng. Theo nhiều thống kê thì người Canada sử dụng trên 200 ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ, bao gồm tiếng Hoa, tiếng Quảng Đông, Punjabi và tiếng Tây Ban Nha,… Trong đó, ngôn ngữ chính thức của người Canada là tiếng Pháp và tiếng Anh. Hai ngôn ngữ này được công nhận trong Hiến pháp của Canada. Chính vì vậy, mọi chính sách, điều luật, thông báo,… của quốc gia này đều được ban hành và thể hiện bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.

Chính phủ liên bang của Canada cam kết thúc đẩy sự bình đẳng và tình trạng của tiếng Anh và tiếng Pháp trong xã hội Canada và hỗ trợ cho sự phát triển của các cộng đồng thiểu số ngôn ngữ Anh và Pháp. Hiến chương Canada về Các Quyền và Tự do quy định về quyền ngôn ngữ ở Canada và Đạo luật Ngôn ngữ Chính thức quy định cụ thể các nghĩa vụ của các cơ quan Chính phủ Canada ở cấp liên bang.

Từ năm 1969, hai ngôn ngữ Anh và Pháp đã phổ biến khắp Canada. Gần 60% người dân của quốc gia này sử dụng tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Tiếng Pháp được sử dụng bởi 22% dân số, và hơn 17% dân số nói được cả hai thứ tiếng. Toàn khối đất nước Canada là một tổ hợp hoàn chỉnh của các văn hóa, tính ngưỡng, phong tục và ngôn ngữ từ khắp mọi nơi trên thế giới.

Theo hiến chương Pháp ngữ 1977, xác định tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của Québec. Ở Québec có trên 85% dân số nói tiếng Pháp, bên cạnh đó một số nơi sử dụng tiếng Pháp như: Alberta, Ontario và Nam Bộ Manitoba. New Brunswick là tỉnh chính thức song ngữ duy nhất, có cộng đồng thiểu số Acadia nói tiếng Pháp chiếm 33% dân số. Cũng có các nhóm người Acadia tại Tây Nam Bộ Nova Scotia, trên đảo Cape Breton, và qua Trung Bộ và Tây Bộ đảo Prince Edward.

Các tỉnh khác không có ngôn ngữ chính thức như vậy, song tiếng Pháp được sử dụng như một ngôn ngữ trong giảng dạy, trong tòa án, và cho các dịch vụ chính quyền khác, cùng với tiếng Anh. Manitoba, Ontario, và Québec cho phép dùng song ngữ (nói cả tiếng Anh và tiếng Pháp) tại các cơ quan lập pháp cấp tỉnh, và các đạo luật được ban hành bằng cả hai ngôn ngữ.

Lịch sử của chính sách song ngữ Canada có thể được truy ngược theo Đạo luật Bắc Mỹ của Anh năm 1867, chính thức cho phép sử dụng cả tiếng Pháp và tiếng Anh trong các cuộc tranh luận Nghị viện và các thủ tục của tòa án liên bang. Phần 133 của Đạo luật đó cũng quy định rằng tiếng Anh và tiếng Pháp nên được sử dụng trong các tạp chí và hồ sơ của Quốc hội, và pháp luật đó nên được ban hành bằng cả hai ngôn ngữ chính thức.

Tem liên bang bắt đầu được thực hiện bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp vào năm 1927, và năm 1936, tiền giấy cũng trở thành ngôn ngữ song ngữ. Văn phòng Dịch thuật, một tổ chức liên bang, được thành lập năm 1934 bởi Đạo luật của Quốc hội, và năm 1959, những phiên dịch đồng thời được đưa ra trong Hạ viện.

Năm 2011, gần 6.800.000 người Canada kê khai ngôn ngữ mẹ đẻ của họ là một ngôn ngữ phi chính thức. Một số ngôn ngữ thứ nhất phi chính thức thông dụng nhất là tiếng Trung Quốc (chủ yếu là tiếng Quảng Đông; 1.072.555 người), Punjab (430.705), Tây Ban Nha (410.670), Đức (409.200), và Ý (407.490).

Tiếng Anh ở Canada

Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất ở Canada. Với 3/5 dân số Canada sử dụng tiếng Anh trải đều khắp cả nước.

Ngôn ngữ này ở Canada được hình thành thông qua làn sóng nhập cư nhiều thời kỳ. Làn sóng đầu tiên, lớn nhất và quan trọng nhất là những người định cư đến từ nước Anh và những người Bảo hoàng đến từ cuộc Cách mạng Mỹ, họ đã truyền bá giọng Anh một cách rõ ràng trong cách nói tiếng Anh của người Canada. Những làn sóng tiếp theo từ những cộng đồng nói tiếng Anh khác trên thế giới tuy có ảnh hưởng ít hơn nhưng đã chuẩn bị cho Canada trở thành một quốc gia đa văn hóa, sẵn sàng chấp nhận những thay đổi ngôn ngữ từ khắp nơi trên thế giới.

Mặc dù tiếng Anh có thể xuất hiện ở Canada trước thế kỷ 19, nhưng không có đủ người nói hoặc cũng không đủ các tính năng quan trọng trong ngôn ngữ để nó được coi là một thứ khác ngoài tiếng Anh của Vương quốc Anh. Tuy nhiên, giữa năm 1825 và 1846 hơn 500.000 người nhập cư đến Canada trực tiếp từ Anh, và đến năm 1871 trên 2.000.000 người ở Canada đã liệt kê Đảo Anh làm nguồn gốc của họ. Những người Canada mới mang theo họ một loại tiếng Anh mà họ đã học được từ cha mẹ họ ở quê nhà, và nó không có chút gì giống với cái mà bây giờ được gọi là Standard English Anh, hoặc chỉ đơn giản là Tiêu chuẩn tiếng Anh.

người canada nói tiếng gi 1

Theo các chuyên gia, có vẻ như những người nhập cư Anh sang Canada không có bằng cấp cao. Vì vậy, họ đã không mang theo một hình thức “thích hợp” của tiếng Anh đã được nói đến, ví dụ như bởi các sinh viên tốt nghiệp của Đại học Oxford và Đại học Cambridge. Thay vào đó, họ mang theo một loại tiếng Anh giản dị hơn cho đất nước, một tình huống khiến cho những người nhập cư có học vấn thiểu số phản đối, bao gồm cả một phụ nữ tên là Susanna Moodie, người đã viết cuốn sách Roughing It in the Bush (1852), một cuốn tiểu sử về Cuộc đấu tranh của cô với tiếng Anh Canada. Tuy nhiên, loại tiếng Anh được giới thiệu đến Canada vào đầu thế kỷ 19 không theo tiêu chuẩn. Nó đã được nói bằng tiếng Anh, thường là điển hình của khu vực, từ quê hương của người nói, như Ireland, Yorkshire hoặc Devon.

Khi các cá nhân di chuyển xa quê hương, hai điều xảy ra với ngôn ngữ của họ. Thứ nhất, nó thoát những ảnh hưởng trực tiếp của những thay đổi trong ngữ pháp và cách phát âm diễn ra bằng ngôn ngữ mẹ đẻ; Và thứ hai, nó trải qua những thay đổi lớn trong từ vựng và những từ ngữ lóng để cho phép người dùng của nó có thể thích ứng với lời nói của họ với hoàn cảnh mới của họ. Điều này chắc chắn là trường hợp của những người nhập cư Anh đến Canada để bắt đầu một cuộc sống mới.

Mặc dù có sự phát âm khác nhau giữa tiếng Anh của người Anh và Tiếng Anh ở Canada, sự khác biệt về ngữ pháp rất ít. Điều này là bởi vì tất cả những thay đổi lớn đã ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ pháp của tiếng Anh đã diễn ra ở Anh trước khi hầu hết mọi người di cư đến Canada.

Ngày nay, tiếng Anh là ngôn ngữ nổi bật nhất được nói ở Canada, ngôn ngữ đầu tiên cho gần 60% dân số. Ngay cả ở những tỉnh mà tiếng Pháp thường được nghe nhiều nhất, đa số cư dân có thể nói được ít nhất một số tiếng Anh, và gần một nửa là nói hai ngôn ngữ, có nghĩa là họ thông thạo tiếng Pháp và tiếng Anh.

Tiếng Pháp ở Canada

Tiếng Pháp với khoảng 1/5 dân số sử dụng đặc biệt là ở thành phố Quebec và một số vùng ở Ontario, New Brunswick và Manitoba. Ngoài ra, các cộng đồng nhỏ nói tiếng Pháp cũng nằm rải rác ở nhiều địa phương Canada. Ngay bản thân Quebec cũng có một bộ phận nhỏ dân cư nói tiếng Anh.

Tiếng Pháp ở Canada không phải là thổ ngữ và cũng không phải ngôn ngữ lai giữa tiếng Pháp, tiếng Anh và ngôn ngữ bản xứ. Đó là thứ tiếng Pháp đích thực được gần 10.000 người định cư Tân Pháp quốc mang đến Canada vào thế kỷ 17. Thời đó, người Pháp ở Canada nói nhiều phương ngữ khác nhau theo quê hương bản quán của họ, nhưng đến khi người Anh giành được Canada theo hiệp ước Paris năm 1763 thì cộng đồng pháp tại đây chỉ sử dụng một tiếng thứ tiếng Pháp chung.

Theo hệ thống giáo dục Canada tất cả trẻ em đều phải học bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp từ bậc tiểu học. Năm 2006, thống kê cho thất có khoảng 17,4% dân số sử dụng cùng lúc hai thứ tiếng, có thể trò chuyện bằng cả hai ngôn ngữ chính thức của đất nước. Tỷ lệ sử dụng song ngữ khác nhau ở các tỉnh, cao nhất là ở Québec.

Ngôn ngữ khác ở Canada

Giống như Hoa Kỳ, Canada đang trở thành một điểm giao thoa của các sắc tộc, văn hoá và ngôn ngữ khác nhau. Thống kê từ Canada cho thấy trong khi hầu hết mọi người ở Canada nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp ở nhà, cứ 6 người thì có 1 người nói rằng có một thứ tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Cuộc khảo sát cũng cho biết rằng các nhóm ngôn ngữ phát triển nhanh nhất trong nước là những ngôn ngữ thường xuyên được nói ở Châu Á và Trung Đông.

Dưới đây là 20 ngôn ngữ nói của Canada – ngôn ngữ nói ở nhà của những người sống ở Canada, tổng số người nói và phần trăm dân số mà họ đại diện:

Ngôn ngữ Người Tỷ lệ %
Tiếng Anh 20.584.775 67,1
Tiếng Pháp 6.608.125 19,1
Tiếng Hoa 790.035 2,6
Punjabi 500.000 1
Tây Ban Nha 209.955 0,7
Ý 170.330 0,6
Hà Lan 159.440 0,6
Ucraina 148.090 0,5
Ả Rập 144.745 0,5
Đức 128.350 0,4
Tagalog 119.345 0,4
Tiếng Việt 11.440 0,4
Bồ Đào Nha 103.875 0,3
Urdu 102.805 0,3
Ba Lan 101.575 0,3
Hàn Quốc 101.500 0,3
Ấn Độ 97.220 0,3
Nga 93.805 0,3
Tamil 92.680 0,3
Hy Lạp 55.100 0,2
Gujarati 52.715 0,2

Các tỉnh có tỷ lệ phần trăm dân số cụ thể nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh là ngôn ngữ đầu tiên của họ là British Columbia – 16,6%; Ontario – 16,1%; Manitoba – 10,1%; Và Alberta – 9,8%. Mặt khác, có thể tìm thấy nhiều người nói tiếng nước ngoài ở Ontario (1.934.235); tiếp theo là British Columbia (676.911); tiếp theo là Quebec (562.860).

Ngôn ngữ thổ dân ở Canada

Trong thế kỷ qua hoặc hơn, khoảng 10 trong số các thổ dân Canada đã từng phát triển mạnh đã bị tuyệt chủng, và cũng có không ít đang trên bờ vực. Vào năm 1996, chỉ có 3 trong số 50 ngôn ngữ Thổ dân địa phương – Cree, Inuktitut và Ojibway – đã có đủ số lượng quần thể được coi là thực sự an toàn khỏi nguy cơ tuyệt chủng trong dài hạn. Khoảng 800.000 người khẳng định bản sắc thổ dân hoặc sắc tộc, chỉ có một phần tư nói tiếng thổ dân là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, và thậm chí còn ít nói ngôn ngữ ở nhà.

50 thổ ngữ thổ dân ở Canada thuộc 11 gia đình ngôn ngữ chính: 10 gia đình ngôn ngữ First Nation và Inuktitut. Một số trong những gia đình này được coi là lớn và mạnh mẽ, trong khi một số khác thì nhỏ và dễ bị tổn thương.

Ba gia đình ngôn ngữ lớn nhất đại diện cho 93% những người có tiếng mẹ đẻ của thổ dân. Khoảng 150.000 người có ngôn ngữ Algonquian là ngôn ngữ đầu tiên của họ, một nhóm ngôn ngữ bao gồm Cree và Ojibway. 28.000 khác có Inuktitut làm ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, và 20.000 người có Athapaskan. 8 gia đình ngôn ngữ còn lại chỉ chiếm 7 phần trăm số người có tiếng thổ dân đầu tiên, một dấu hiệu cho thấy các loại ngôn ngữ này có quy mô tương đối nhỏ.

Ngày nay, tuy tiếng Anh và Pháp đóng vai trò quan trọng trong mọi mặt đời sống ở Canada nhưng do chính sách đa văn hóa của Chính phủ, người nhập cư và dân bản địa được khuyến khích giữ gìn ngôn ngữ riêng của họ như một di sản văn hóa. Bởi vậy, khi du lịch Canada với một cộng đồng bản sắc văn hóa đa dạng sẽ giúp du khách có những trải nghiệm khó quên từ văn hóa, ẩm thực, nghệ thuật của cả Châu Á và Châu Âu,…

Winter Festival of Lights – “bữa tiệc ánh sáng” rực rỡ tại Canada

Cứ mỗi mùa Giáng sinh tới gần là một lần người dân Canada lại có cơ hội thưởng thức “bữa tiệc ánh sáng” kỳ diệu của Lễ hội ánh sáng mùa đông (Winter Festival of Lights) được tổ chức thường niên ở Niagara Falls (Thác Niagara). Đây là lễ hội lớn nhất của Canada và mỗi năm thu hút được hơn 1.800.000 người.

Winter Festival of Lights được diễn ra lần đầu tiên cách đây khoảng 150 năm, nhằm tôn vinh chuyến thăm của Hoàng tử xứ Wales. Và mãi đến năm 1907, những ngọn đèn màu đầu tiên mới xuất hiện trong lễ hội. Tuy nhiên, thác nước Niagara chỉ thực sự được chiếu sáng bằng điện lần đầu tiên vào tháng 01/1979, trong một chuyến thăm của Hầu tước Lorne, toàn quyền Canada.

Cho đến ngày nay, cứ vào ngày 6/11 hàng năm, “bữa tiệc ánh sáng” ở thác Niagara lại bắt đầu và kéo dài trong khoảng 20-25 ngày.

Mỗi năm, lễ hội sẽ được tổ chức theo một chủ đề và màu sắc khác nhau. Mặc dù vậy, lễ khai mạc của Winter Festival of Lights sẽ không thể thiếu hoạt động “bật công tắc” (flip-the-switch), các diễn viên, nhân vật hóa trang, các tiết mục bắn pháo hoa, biểu diễn nhạc kịch trong bầu không khí tiệc mừng xung quanh Công viên Nữ hoàng Victoria của khu vực Niagara.

Tiếp theo là màn trình diễn với chủ đề yêu nước. Các tia sáng phát ra từ một chùm đèn gồm 21 chiếc đèn chiếu. Mỗi bóng có đường kính 30cm, được đặt trên đỉnh của hầm đá lớn theo dọc đường. Ngoài ra, ban tổ chức lễ hội còn cho treo đèn trên suốt một đoạn đường thiết kế dài 8km với hơn 50 cây cao giăng đèn màu.

“Bữa tiệc ánh sáng” này sẽ rực rỡ thêm khi có hơn 3.000.000 bóng đèn được chiếu sáng và hơn 100 màn hình chiếu sáng trải dài từ quần đảo Dufferin dọc theo Niagara Parkway. Đặc biệt, vào thời điểm lễ hội diễn ra, không chỉ dòng thác, khu vực xung quanh như Công viên Nữ hoàng Victoria cũng khoác lên bộ áo rực rỡ hơn ngày thường.

Bên cạnh đó còn có những chiếc bập bênh phát sáng, Đài phun nước Zimmerman cao 2 tầng nổi tiếng, ngôi nhà bánh quy gừng (Gingerbread House), con thuyền của Noah (Noah’s Ark), những tượng thiên thần 3D trang trí và nhiều “công trình” ánh sáng hút mắt. Bằng bàn tay tài hoa, những người thợ đã biến khu vực này thành vùng đất lấp lánh bước ra từ những câu chuyện thần thoại. Họ trang hoàng hàng trăm cây lớn bằng đèn Giáng sinh. Dạo quanh “khu rừng”, thỉnh thoảng, du khách có thể bắt gặp những chú tuần lộc rực sáng tuyệt đẹp. Đặc biệt, du khách có cơ hội tham quan các khu trưng bày các mẫu vật cao hơn 3,5m với chủ đề động vật hoang dã, thiên mang đặc trưng của đất nước Canada. Dự tính số đèn được sử dụng cho toàn bộ khu trưng bày có thể lên tới con số hàng triệu bóng đèn, trải dài trên khắp khu vực Dufferin Island, các khu vực công viên và tòa nhà khác nằm trong phạm vi Niagara Falls trong suốt khoảng thời gian lễ hội diễn ra.

Dù ở bất kỳ vị trí nào xung quanh thác Niagara, du khách cũng có thể thưởng thức được “bữa tiệc ánh sáng” rực rỡ này. Tuy nhiên, nhiều vị khách tham gia lễ hội thường tập trung trên vỉa hè ở Đại lộ Niagara để xem buổi biểu diễn bắn sương mù đầy màu sắc bay lên từ thác nước.

Hơn thế nữa, Winter Festival of Lights còn đưa đến cho khách tham quan 25 buổi biểu diễn pháo hoa quy mô lớn – một trong những nét đặc trưng và nổi tiếng nhất của sự kiện này. Không những vậy, đan xen với những màn biểu diễn pháo hoa nghệ thuật trên nền nhạc kéo dài 18 phút, du khách có thể chiêm ngưỡng lá cờ Mỹ – Canada lớn nhất thế giới. Đồng thời, các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng đặc biệt và kỳ diệu cũng sẽ được trình chiếu lên Fallsview Casino từ Thứ Năm đến Chủ Nhật mỗi tuần.

Ngoài những màn trình diễn ánh sáng ảo diệu nêu trên, du khách còn có thể trải nghiệm nhiều hoạt động thú vị khác vào ban ngày. Phải nói là thật sự tuyệt vời!

Nếu du khách đang du lịch Canada, đừng bỏ lỡ cơ hội được chiêm ngưỡng “bữa tiệc ánh sáng” Winter Festival of Lights đầy tuyệt vời này nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

Bí ẩn về tộc người Viking sinh sống đầu tiên tại Canada

Đất nước Canada là một vùng đất mới và chứa đựng nhiều bí ẩn. Đặc biệt, là về người Viking mà hiện nay còn rất ít tư liệu về họ. Viking là dân tộc sinh sống đầu tiên tại Canada và cũng là người đầu tiên khám phá ra Châu Mỹ.

Viking còn được gọi là “Norsemen” (người Bắc Âu) hay “Norse”. Họ là những nhà thám hiểm, thương nhân, chiến binh, hải tặc đến từ bán đảo Scandinavia (lãnh thổ các nước Đan Mạch, Na Uy, Thuỵ Điển, Iceland và Phần Lan của khu vực Bắc Âu ngày nay) vào thời đại đồ đá muộn.

Người ta thường nhắc tới người Viking như các chiến binh lưu động trên thuyền hoặc những kẻ cướp biển, nhưng họ cũng là các nông dân và các nhà buôn giỏi. Những tay cướp biển người Viking giương buồm đi khắp Châu Âu và bắc Đại Tây Dương trên những chiếc thuyền dài, đánh phá cướp bóc và xâm chiếm phần lớn các vùng đất trù phú tại Châu Âu, rồi định cư tại những vùng đất chiếm được. Thời đại hoàng kim của người Viking bắt đầu khoảng cuối thế kỷ VIII và kéo dài đến giữa thế kỷ XI (từ khoảng năm 753 tới năm 1066). Thời đại này ghi nhận vô số chuyến viễn chinh cướp bóc của người Viking, theo sau là các cuộc chiếm đóng với quy mô lớn. Người Viking Đan Mạch đã tàn phá, cướp bóc đảo Anh, Ireland và Francia; trong khi người Viking Na Uy dong buồm đến Scotland, quần đảo Orkney, quần đảo Faroe, Iceland và đảo Greenland. Còn người Viking Thụy Điển lại đi về phía Đông, đến Nga và thậm chí đến tận đế quốc Byzantine.

Trong thời đại này, các nhóm người Viking đã đi buôn bán, cướp phá phần lớn Châu Âu, Tây Nam Châu Á và khám phá vùng Bắc Đại Tây Dương, Đông Bắc Châu Mỹ. Ngoài việc giao thương và cướp phá, họ cũng đánh thuê, bắt cóc nô lệ và cũng góp phần vào việc phát triển chế độ phong kiến ở Châu Âu.

Xã hội Viking trong thời đại này chưa hình thành quốc gia, mà chỉ là các đơn vị nhỏ dưới dạng thôn làng độc lập. Việc hình thành quốc gia ở Bắc Âu thuộc thời trung cổ.

Trong nhiều thế kỷ, người Viking đã đi xâm lược rất nhiều nơi và chính họ đã tìm ra đất nước Canada ngày nay. Vậy nên có thể khẳng định rằng: Viking là tộc người đầu tiên sinh sống tại “xứ sở lá phong”.

Trong lịch sử, những người Viking nổi tiếng là các chiến binh giỏi. Điều này do nhiều yếu tố. Trước hết, phải nói về chiến thuyền mà họ sử dụng. Người Viking sử dụng hai loại thuyền: Drakar và Knarr. Drakar là chiến thuyền lớn và dài, được dùng cho mục đích chiến tranh và những cuộc thám hiểm xa, có tốc độ nhanh được thiết kế có nhiều mái chèo để hỗ trợ cho việc di chuyển trên biển và giúp tàu có thể tự vận hành mà không cần tới gió. Các chiến thuyền loại này có thân dài và hẹp, có mạn tàu phía trên thấp nhằm hỗ trợ cho việc đổ bộ lên đất liền. Trong khi đó, loại tàu Knarr có thân ngắn hơn có vận tốc thấp hơn nhưng có khả năng chuyên chở nhiều hơn so với Drakar. Nó được thiết kế với thân tàu ngắn và rộng, với lòng tàu sâu. Nó không có mái chèo như loại tàu Drakar.

Người ta thường coi tàu Drakar là “tàu Viking”, như tàu mang tính đặc trưng của người Viking. Năm 1997 các nhà khảo cổ đã tìm thấy một tàu Viking lớn với chiều dài khoảng 36m, chứa được khoảng 100 người. Hiện nay tại Nhà bảo tàng tàu Viking (Vikingeskibsmuseet) tại Roskilde, Đan Mạch còn lưu giữ 5 xác tàu Viking – 3 tàu Drakar và 2 tàu Knarr, được khai quật từ Vịnh Roskilde từ năm 1962. 5 chiếc tàu này được đặt tên là Skuldelev 1, 2, 3, 5, 6 (vì tìm thấy tại Vịnh Roskilde, bên ngoài Skuldelev). Riêng tàu Skuldelev 2 có chiều dài là 29,6m, được đóng tại Dublin, Ireland. Nghiên cứu về sự phát triển của thớ gỗ, người ta được biết nó được đóng bằng gỗ sồi rừng, chặt năm 1042 dường như tại khu rừng Glendalough phía nam Dublin.

Tàu Viking có thể đi một ngày được 150 hải lý (khoảng 280km), do đó đối phương thường không kịp tập trung lực lượng để phòng thủ, đối phó. Ngoài ra, họ có khả năng đổ bộ nhanh lên các bãi biển hoặc dọc theo các sông nhỏ mà không cần cảng vì các chiến thuyền của họ rất nhẹ và dễ đem lên đất liền.

Người Viking cũng sử dụng võ trang thông thường như: rìu sắt, khiên tròn, mũ sắt bảo vệ đầu có tấm che mũi (jernhat), áo trận với quần dài màu xám hoặc xanh dương. Chỉ những người chỉ huy mới dùng kiếm và áo giáp sắt. Đặc biệt, trang bị của nhà vua khi thân chinh cũng vô cùng đặc biệt. Mũ sắt của vua Erik Vejrhat có cắm một lá cờ nhỏ, vua Guldharald có mũ bảo vệ đầu bằng vàng.

Mặc dù những chiến binh xuất sắc này thường lênh đênh trên biển nhưng họ là những người ăn ở rất sạch sẽ. Tại những khu khai quật nơi chiến binh Viking từng sinh sống, các nhà khoa học tìm được nhíp, dao cạo râu, lược và chất rửa tai làm từ xương và gạc động vật. Ngoài ra, họ cũng tắm ít nhất 1 lần/tuần, nhiều hơn so với mức trung bình của người Châu Âu thời đó.

Nam giới Viking rất thích màu vàng. Vẻ đẹp lý tưởng trong văn hóa đối với nam giới dân tộc chiến binh này là mái tóc vàng. Đặc biệt phụ nữ Viking được hưởng một số quyền cơ bản như thừa kế tài sản, yêu cầu ly hôn và đòi của hồi môn nếu như cuộc hôn nhân của họ với bạn đời tan vỡ.

Vào thời kỳ này, người Viking rất thích trượt tuyết để đến được nhiều nơi và nó cũng là một hình thức giải trí của người dân.

Người Viking dành hầu hết thời gian làm nông nghiệp. Cướp biển Viking khi rời khỏi cuộc sống trên thuyền đã đi gieo trồng đại mạch, lúa mạch đen và yến mạch. Họ cũng nuôi gia súc như dê, lợn và cừu trong các trang trại nhỏ.

Người Viking sử dụng một chất lỏng duy nhất để châm lửa. Họ có khả năng tạo ra lửa dù ở bất cứ nơi đâu do cách lấy lửa này.

Người Viking cũng hiếu chiến với cả chính tộc người của mình. Trong thời đại của người Viking, các bộ lạc của dân tộc chiến binh này thường xuyên cầm kiếm chống lại nhau khi không bị giặc ngoại xâm tấn công.

Người Viking cả nam lẫn nữ đều học võ từ rất nhỏ. Môn võ được yêu thích và là nền tảng chiến đấu của họ mang tên Glima. Ngay từ khi lên 6 – 7 tuổi, trẻ em tại đây đã được dạy Glima. Nhờ đó, Viking luôn sở hữu một đội ngũ chiến binh mạnh mẽ trong suốt thời kỳ hưng thịnh nhất. Môn võ này rất chú trọng đến sức mạnh, phản xạ và đặc biệt là sự quyết đoán. Bởi không chỉ để chiến đấu, tập luyện Glima giúp người Viking tăng khả năng chống chọi với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Và người Viking rất lãng mạn. “Bức thư tình đó” có nội dung: “Hãy hôn anh/em đi”. Một nhà khoa học tại Đại học Oslo đã giải mã được những kí tự được gọi là mật mã jotunvillur. Đây là ngôn ngữ bí mật của người Runic từng được người Viking sử dụng trong thế kỷ XIII, nó đã được tìm thấy trong hơn 80 bản chữ khắc Na Uy nhắc đến ngày Lễ tình yêu (Valentine) của người Viking. Thật khó tin khi những người chuyên cướp phá, chém giết, hiếu chiến này lại là những người khá lãng mạn!

Về tôn giáo thời đó, người Viking chưa biết đến Ki-tô giáo. Niềm tin vào các vị thần trong thần thoại Bắc Âu khiến các chiến binh Viking luôn hăng say chiến đấu một mất một còn. Thần thoại Bắc Âu nhấn mạnh rằng một chiến binh đích thực thì phải chết tại trận tiền và sẽ trở thành người được cư ngụ tại Valhalla (nơi các thần cư ngụ) sau khi chết, cùng với các thần khác. Một chiến binh Viking nếu chết vì tuổi già hoặc chết trên giường bệnh thì linh hồn sẽ bị đày Hel (âm phủ tối tăm lạnh lẽo). Một chiến binh đích thực rất sợ cái chết thứ hai này, do vậy họ luôn chiến đấu với tinh thần dũng cảm.

Tồn tại trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Canada nói riêng, tộc người Viking là những chiến binh hùng mạnh và hiếu chiến, thế nhưng họ đã bị diệt vong. Sự diệt vong ấy xuất phát từ những lý do sau đây:

Như trên đã nói, người Viking được biết đến là những chiến binh hung bạo nhất và là những tên cướp biển nguy hiểm nhất. Họ đi rất nhiều nơi, không chỉ riêng Châu Âu, Châu Á, Châu Phi mà họ còn tìm ra sự góp mặt của Châu Mỹ trên bản đồ hiện nay. Vì thế, việc họ gây thù trút oán đối với nhiều dân tộc khác.

Trong quá trình sinh sống tại đất nước Canada, người đàn ông Viking vẫn làm nhiệm vụ cướp bóc. Còn người phụ nữ thì ở nhà chăm con và nội trợ. Cuộc sống đối với họ chỉ kéo dài được vài thập kỷ, khi dân tộc này bị cũng bị rơi vào cuộc chiến xâm chiếm. Theo lịch sử ghi chép lại lúc bấy giờ, sang thế kỷ XII có người: Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ý… đã đến đây chiếm đóng vùng đất này. Họ sử dụng súng hơi để diệt vong tộc người Viking. Bắt đầu từ đây người Viking đã không còn dấu tích sinh sống tại đất nước Canada nữa.

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học ở Đại học Brown (Mỹ) thì lại cho rằng, khí hậu ngày càng lạnh giá có thể là nguyên nhân diệt vong của cộng đồng người này vào thế kỷ XIV và XV. Bắt đầu từ khoảng năm 1100, nhiệt độ giảm 4 độ C. Điều này được các nhà khoa học kết luận sau khi nghiên cứu các mẫu băng lấy từ hai hồ tại Kangerlussuaq. Hình thái thời tiết thay đổi khiến tình hình trở nên nguy hiểm: Mùa hè ngắn và lạnh khiến thời gian canh tác bị rút lại, sản lượng lương thực sụt giảm, hoạt động trao đổi buôn bán bị cản trở do băng đá ngày càng nhiều.

Tộc người Viking có lẽ còn rất nhiều ẩn số và nhiều bí mật còn được cất giữ. Nếu du khách yêu thích việc tìm hiểu cũng như muốn hiểu hơn về người Viking thì trong chuyến du lịch Canada, du khách hãy tận dụng cơ hội đó để tìm hiểu nhé!